OGS-7: Tài liệu phổ thông về ung thư

Recent Pages: 123, 4, 57891011, 1213141516,

Tài liệu phổ thông về ung thư
của Đại học Johns Hopkins

Dưới đây là bản tin cập-nhật về ung- thư của bệnh-viện John Hopkins, Baltimore,Maryland, một bệnh viện tai Hoa-kỳ đứng hàng đầu thê giới.

Bệnh viện John Hopkins, Baltimore
Bệnh viện John Hopkins, Baltimore

1- Mỗi người trong chúng ta đều có những tế bào ung thư trong cơ thể. Các tế bào ung thư này chỉ đươc phát hiện trong các thử nghiệm tiêu chuẩn  khi nào chúng đã nhân bội lên thành vài tỉ. Khi bác sĩ nói với  bệnh nhân ung thư là họ không còn tế bào ung thư nữa trong cơ thể thì điều này chỉ có nghĩa là các thử nghiệm không còn có thể dò tìm đươc các tế bào ung thư vì số lượng của chúng không đủ lớn.

2- Trong đời sống của một người,  các tế bào ung thư xuất hiện khoảng từ 6 tới hơn 10 lẩn.

3- Khi hệ miễn dịch (immune system) của một người mạnh thì các tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt và bị ngăn cản không thể nhân bội và tạo ra các khối u.

4- Khi một người bị ung thư thì chứng tỏ là người ấy bị thiếu dinh dưỡng đa bội (multiple nutritional deficiences). Sự kiện này có thể là do di truyền, môi trường (environment), thực phẩm (diet) và các yếu tố nếp sống (lifestyle).

5- Để vượt qua tình trạng thiếu dinh dưỡng đa bội thì cần thay đổi chế độ ăn uống và uống các chất dinh dưỡng bổ sung (supplements) để tăng cường hệ miễn  dịch.

6- Hoá trị liệu (chemotherapy) đầu độc các tế bào ung thư tăng trưởng nhanh nhưng  tiêu hủy luôn cả các tế bào lành mạnh tăng trưởng nhanh trong tủy xương, hệ dạ dày-ruột và cũng  còn có thể gây tổn thương cho các bộ phận như gan, thận, tim, phổi… …

7- Bức xạ (radiation) hủy diệt các tế bào ung thư nhưng đổng thời cũng đốt cháy, gây sẹo và làm tổn hại các tế bào , mô và bộ phận lành mạnh.

8- Khi mới bắt đầu chữa trị bẳng hóa trị liệu và bức xạ thì thường ra kích cỡ khối u sẽ giảm. Tuy nhiên nếu việc chữa trị này kéo dài thì sẽ không còn tác dụng tiêu hủy khối u nữa.

9- Khi trong cơ thể có nhiểu chất độc do hoá trị liệu và bức xạ gây ra thì hệ miễn dịch  hoặc sẽ bị tổn thương hoặc sẽ bị tiêu hủy, làm cho bệnh nhân bị kiệt quệ trước sức tấn công của đủ các loại nhiểm khuẩn và biến chứng.

10- Hóa trị liệu và bức xạ có thể làm các tế bào ung thư đột biến (mutate) và trở thành đề kháng và khó bị tiêu diệt. Phẫu thuật  (surgery) cũng có thể làm các tế bào ung thư lây lan sang các phẩn khác của cơ thể.

11- Một cách hữu hiệu đề đánh bại ung thư là bỏ đói các tế bào ung thư bẳng cách ngăn chăn việc cung cấp thức ăn cẩn thiết để chúng không có thể nhân bội.

Các tế bào ung thư sinh sống bằng gì?

a- Đường là chất nuôi dưỡng ung thư. Vậy thì ngăn chân đường không cho tới các tế bào ung thư là cắt đứt nguổn tiếp tế chính của các tế bào này. Các chất thay thế đường như Nutrasweet, Equal, Spoonful được làm bằng aspartame tuy ngọt nhưng  độc . Một chất thiên nhiên rất tốt để thay thế đường là mật ong hay mật mía Manuka nhưng với một lượng rất nhỏ. Muối ăn có thêm một hoá chất tẩy trắng vì vậy nên được thay thề bởi Bragg’s aminos hay muối biển.

b- Sữa làm cơ thể tiết ra niêm dịch (dịch nhày) đặc biệt là trong hệ dạ dày- ruột. Ung thư sống nhờ vào các niêm-dịch (mucus) này. Do đó nên bỏ sữa và thay thế bằng sữa đậu nành không có đường như thế các tế bào ung thư sẽ bị bỏ đói.

c- Thịt: Các tế bào ung thư phát triển nhanh trong môi trường acid. Một chế độ ăn uống mà thịt là cơ bản có tính acid, vì vậy tốt hơn hết là nên thay thịt bò và heo bằng cá và một ít thịt gà. Thịt còn chứa những trụ sinh dành cho gia súc,  hormon tăng trường và các ký sinh;  tất cả đểu có hại, nhất là đối với những người bị ung thư.

d- Một chế độ ăn uống với 80% là rau tươi và nước ép (juice), ngũ cốc nguyên hạt (whole grain), các hạt  mầm (seeds), các trái hổ đào (nuts) và một ít trái cây giúp cho cơ thể có tính kiềm. Trong số thực phẩm này chỉ khoảng 20% là được  nấu chín kể cả  các loại  đậu (beans). Các nước ép rau tươi cung cấp những  enzim sống dễ đươc cơ thể  hấp thu và chỉ trong vòng 15 phút các enzim này đã có thể truyền tới nuôi dưỡng và thúc đẩy  các tế  bào lành mạnh tăng trưởng.. Muốn có những enzim sống để kiến tạo các tế bào lành mạnh thì nên uống nước ép rau tươi (tất cả các loại rau kề cả  giá) và ăn một số rau sống 2 hay 3 lẩn một ngày. Nên biết là enzim bị phá hủy ở nhiệt độ 104 độ F ( hay 40 độ C)

e- Đừng uống cà-fê, trà, xô-cô- la có hàm lượng caffeine cao. Trà xanh tốt hơn vì có tính  chống ung thư. Nước uống tốt nhất là nườc tinh khiết (purified water) hay nước lọc (filtered water) để  tránh các độc tố và kim loại nặng có trong nước máy. Nên tránh uống nước cất (distilled water) vì có tính acid

12- Chất đạm ( protein) trong thịt khó tiêu hóa và cẩn một số nhiểu enzim tiêu hoá. Thịt không  tiêu hoá được lưu lại trong ruột sẽ thối rữa và sinh độc.

13- Các tế bào ung thư có một  lớp bọc protein rất chắc. Không ăn tht hoặc bớt ăn thịt sẽ giúp tăng số lượng enzim để đánh phá  bức tường protein của các tế bào ung thư và giúp các các “tế bào sát thủ” (killer cells) của  cơ thể tiêu diệt các tế bào ung thư.

14- Một số chất dinh dưỡng bổ sung (IP6, Flor-ssence, Essiac, anti oxidants (chất chống oxi-hoá), vitamin, minerals (khoáng chất), EFAs…) củng cố hệ miễn dịch giúp các “tế bào sát thủ” của cơ thể tiêu diệt các tế bào ung thư. Những chất bổ sung khác như vitamine E đươc biết có khả năng đẩy các tế bào ung thư vào tình trạng “apoptosis”, tức là vào tình trạng bị cơ thể đào thải giống như bình thường cơ thể loại bỏ những tế bào bị tỗn thương, hoặc những tế bào cơ thễ không muốn có hay không cần tới

15- Ung thư là một căn bệnh về tâm trí, thể xác và tinh thần. Một tinh thần vững chắc và lạc quan sẽ giúp bệnh nhân thoát khỏi vòng tay tử thần. Sự tức giận, cố chấp và cay đắng chỉ đem lại  căng thẳng tâm thần và tạo ra một  môi trường acid. Người bị ung thư cẩn phải tập thư dãn và biết vui với  cuộc sống của mình

16- Các tế bào ung thư không thể tăng trưởng nhanh trong một môi trường oxi-hoá. Tập thể dục mỗi ngày, và hít thở thật xâu giúp đưa thêm oxi tới các tế bào. Liệu pháp oxi  cũng là một phương cách  đễ tiêu diệt các tế bào ung thư.

 17-Không nên:

– hâm nóng trong microwave càc thức ăn đựng trong hộp plastic

– phủ bằng giấy plastic  các thức ăn khi hâm nóng trong microwave

 image006

Bác-sĩ Edward Fujimoto thuộc Castle Hospital cho biết khi hâm nóng trong microwave các thức ăn–nhất là các thức ăn nhiều mỡ —đựng trong hộp plastic thì chất béo, nhiệt độ cao và plastic sẽ kết- hợp với nhau để phóng-thích chất độc dioxin vào trong thức ăn.

Vì vậy khi hâm nóng thức ăn trong microwave nên dùng Corning ware, pyrex hay bình đựng bằng xành xứ.

Giấy plastic như Sran Wrap cũng nguy hại cho sức khoẻ khi phủ lên đố ăn hâm nóng trong microwave. Vì thức ăn bỏ trần không bọc, nên các độc-tố tạo- sinh bởi nhiệt độ cao sẽ từ giấy phủ plastic thâm-nhập  vào thức ăn

Cancer Update from John Hopkins Hospital 

Chú thích:

1- Dioxin

Dioxin là một hoá-chất độc-hại nhất đươc khoa hoc biết tới. Dioxin có tính-chất gây ung-thư, có thể làm rối loạn sự sinh đẻ và sự phát-triển (gây khuyêt-tật cho các thai nhi, sinh quái thai),  gây tổn- hai cho hệ miễn-dich và ảnh-hưởng lên hệ hoóc-môn

2-Hoá-trị-liệu (chemotherapy)

Hoá-trị-liệu sử-dụng thuốc (hóa chất) để giết các vi-khuẩn, vi-rút, nấm và các tế-bào ung-thư.

Thuốc có thể uống hoặc chích. Vì thuốc theo máu chạy khắp cơ-thể nên hoá-trị-liệu đuơc xem như là một phép trị-liệu toàn-thân (systemic)

Thường ra thuốc nhắm tấn- công các tế- bào phân- chia nhanh. Các tế-bào ung thư thuộc loại phân-chia nhanh nhưng cũng có những tế-bào lành mạnh phân- chia nhanh như tế- bào máu, tóc và hệ tiêu- hóa dạ dày-ruột non. Vì vậy các thuốc sử- dung trong hoá- tri- liệu cũng tác hại lên các tế- bào lành mạnh. Trong trưòng- hợp này bệnh- nhân sẽ có phản-ứng phụ như buồn nôn,thiếu máu, rụng tóc và đôi khi có người còn cảm thấy mệt- mỏi, đau dây thần- kinh và bị nhiễm- khuẩn

Ghi-chú- Để tránh tác-hại lên các tế-bào lành mạnh, hãng EnGene IC (Úc) đã sáng-chế một thiết-bị vi-ti có khả năng đưa thẳng thuốc tới tế-bào ung-thư.

3-Xạ-trị-liệu (radiation therapy)

Trong xạ-trị-liệu một loại năng-lượng gọi là bức-xạ ion-hoá đươc dùng để giết các tế-bào ung-thư và làm các khối u teo lại. Bức-xạ làm tổn thương và hủy-diệt các tế-bào trong vùng cơ-thể bị chiếu-xạ bằng cách hủy- họai các chất- liệu di-truyền  để chặn không cho các tế-bào này phát-triển và phân chia.  Tuy rằng bức-xạ tác-hại cả các tế bào ung-thư và tế- bào lành mạnh, nhưng các tế-bào lành mạnh có thể hồi- phục  và hoạt-động trở lại bình thường.

Có ba loại xạ-trị-liệu:

–          Xạ- trị-liệu với nguồn bức xạ ở bên ngoài cơ thể (external radiation therapy)

      Máy chiếu-xạ chiếu một chùm tia bức-xa chuẩn-đích vào vùng cơ-thể bị bệnh

               May Xạ-trị-liệu

–          Xạ- trị-liệu với nguồn bức xạ đặt gần hoặc ngay bên trong khối u (brachytherapy)

 Chất phóng xạ như iodine 131

Xạ-trị-liệu toàn-thân (systemic radiation therapy). Chất phóng xạ như iodine 131, strontium 89 đươc uống hoặc chích

Cancer Update from Johns Hopkins

Summer June 19 - 2013 (114)

Một số điều nên biết  về ung-thư

Ung thư là một chứng bệnh có sức tàn phá ghê gớm mà hiện nay vẫn chưa có cách trị liệu tuyệt đối. Có khoảng từ 5-10 phần trăm trường hợp ung thư là do di truyền, còn 90-95 phần trăm là hậu quả của các đột biến gây ra bởi hóa chất, bức xạ, hóc-môn và vi-rút. Hầu như bất cứ bộ phận nào trong cơ thể cũng có thể bị ung thư tấn công từ da cho tới tủy xương và  bất cứ ai già hay trẻ, nam hay nữ đều có thể mắc căn bênh nguy hiểm này. Tại Hoa kỳ số người chết vể ung thư lên tới 555,000 người mỗi năm và các chi tiêu và mất mát  liên quan đến bệnh này vào khoảng 156 tỉ mỹ kim một năm.

Ung-thư phát-xuất từ các tế-bào (cells), những thành-phần cấu-trúc cơ-bản của cơ-thể chúng ta. Bình thường cơ-thể tạo những tế bào mới để thay thế các tế-bào đã chết. Đôi khi tiến-trình này bị xáo-trộn. Các tế-bào mới đươc tạo-thành dù cơ-thể không cần tới, hoặc  các tế-bào đáng lẽ đã chết lại không chết. Các tế-bào dư thừa này tạo thành khối u (tumor).

Các khối u có thể  lành (benign) hoặc  ác- tính malign). Các khối u lành không gây ung-thư nhưng các khối u ác-tính  là nguồn- gốc của ung-thư. Các tế- bào của khối u ác-tính có thể xâm- nhập các mô (tissue) lân-cận và cũng có thể tách rời ra và theo máu (bloodstream) hay hệ bạch-huyết (lymphatic system) mà lan tràn tới các vùng khác trong cơ-thể.

Phần lớn các ung-thư đươc đặt tên theo nơi xuất- phát. Thí-dụ ung- thư phổi bắt nguồn từ phổi, ung-thư vú phát-xuất từ vú. Sư lan- truyền của ung- thư tới vùng khác của cơ-thể goị là di-căn (metastasis). Các triệu-chứng và phép trị-liệu tùy thuộc vào loại ung thư và mức-độ phát-triển của nó.

Có những phương thức trị bệnh khác nhau.tùy thuộc vào loại ung thư, bộ phận cơ thể bị bệnh và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Các khối u ung thư được cắt bỏ bằng phẫu thuật, và nếu có di căn tới các hạch bạch huyết hay các bộ phận khác thì phải tiếp tục trị liệu với những phương thức khác.

Các tế bào ung thư tăng trưởng và nhân bội nhanh và các thuốc chống ung thư (hoá trị liệu) thông thuờng hủy diệt các tế bào ung thư bằng cách làm tổn thương  vật liệu di truyền của các tế bào này để ngăn chặn không cho  bệnh  tăng sinh. Một số thuốc có tác dụng tốt hơn khi kết hợp với nhau thay vì sử dụng một mình, nên bệnh nhân phải uống hai hay nhiều thuốc cùng một lúc. Nhưng đáng tiếc là phẩn lớn các thuốc chống ung thư không có khả năng lọc lựa nên các tế bào lành mạnh cũng bị thuốc tác hại, nhất là các tế bào phân chia nhanh. Sự tác hại lên các tế bào lành mạnh gây ra những phàn ứng phụ. Tuy vậy các tế bào lành mạnh này có thể sao chép và tái lập một quần loại và kích cỡ bình thường sau khi hoá trị liệu ngưng

Xạ trị liệu là phương pháp sử dụng bức xạ ion hoá để trị bệnh ung thư và những bệnh khác, đặc biệt là các khối u cứng khu trú (localized solid tumors) như  ung thư da, lưỡi, não, vú và cổ tử cung. Xạ trị liệu cũng có thể dùng để trị bệnh bạch cầu và u bạch huyết (tức là ung thư liên quan đến các tế bào tạo máu và các tế bào bạch huyết). Bức xạ ion hoá hủy diệt các tế bào bị bệnh tại vùng cơ thể đươc chiếu xạ bằng cách làm tổn thương vật liệu di truyền của các tế bào này để chặn đứng sự tăng trưởng. Ngoài các tế bào bị bệnh thì cả các tế bào lành mạnh cũng bị ảnh hường của xạ trị liệu.

Ngoài ra còn những phương thức trị  liệu  mới mẻ hơn như ức chế sự tạo mạch (antiogenesis inhibition), kích thích hệ miễn dịch chống lại ung thư, ghép tế bào gốc tủy xương và ngoại vicác liệu pháp di truyền và quang động.

Tác dụng phụ của các trị liệu ung thư gồm có tóc rụng, da bị kích thích, nhiễm khuẩn, thiếu máu, da  tại vùng bị chiếu xạ đổi mầu tạm thời , xuất huyết, ung thư gây ra do hóa chất , và suy nhược toàn thân. Ngoài ra còn những phản ứng phụ khác tùy thuộc  vào vùng cơ thể được trị liệu.

Các dữ kiện khoa học gợi ý là các hợp chất có hoạt tính sinh học chứa trong cây paw paw có thể ngăn chặn sự tăng trưởng của các tế bào ung thư và làm các khối u teo lại. Qúi vị hãy cùng chúng tôi tìm hiểu vể loại cây này và dược tính  của nó.

Cây paw paw với khả năng trị bệnh ung thư.

Cây paw paw ra sao?

Cây pawpaw (Asimina tribola) đôi khi đươc g ọi là papaw nên thường gây nhầm lẫn với papaya- đu đ ủ ( carica papaya), một họ cây  hoàn toàn khác  chỉ mọc ở miền nhiệt đới..

Tại Hoa kỳ cây pawpaw mọc về phiá bắc  tới New York và nam Ontario , về phiá tây tới Nebraska và Texas, về phiá Nam tới Florida. Cây còn đươc biết dưới nhiểu tên khác nhau như  American Custard Apple, West Virginia Banana và Indiana Banana  Có khoảng bảy loại cây thuộc họ asimina mọc ở miền đông nam Hoa kỳ.

 Cây pawpawTrái pawpawTrái pawpaw 1

Cây pawpaw mọc  thành bụi cây cao  hoặc thành  cây nhỏ  ở những nơi có nhiều ánh nắng mặt trời.

Trái pawpaw , hình bầu dục dài từ 2 đến 5 inch, có vị ngọt và  cấu trúc tương tự như một trái chuối-soài. Khi chín trái pawpaw có mẩu vàng-cam. Thịt trái pawpaw, giống như kem custard, ăn ngọt, và trong trái có nhiều hạt bầu dục mầu đen .

Cây pawpaw đươc biết tới nhiều vì dươc tính của nó. Trái cây chứa nhiều amino acid,  lá cây hình trái xoan to bản (có thể dài tới 1 foot) có chứa chất chống ưng thư,  dịch chiết  từ lá và cành nhỏ  có đặc tính trừ sâu diệt giun sán, và dịch chiết từ hạt đã đươc dùng từ năm 1800 làm chất gây nôn

Một đặc điềm khác của cây là những đoá hoa, ba thuỳ, mầu tiá đỏ xẫm trông  độc đáo và rất đẹp.

Cây pawpaw 1Hoa pawpaw

Dược tính của pawpaw

Các chất acetogenins trong dịch chiết pawpaw có tác dụng điều biến việc sản    xuất ATP trong các thể hạt sợi (mitochondria) của các tế  bào ung thư và nhờ   vậy sự tăng trưởng của  các mạch máu nuôi dưỡng tế bào ung thư bị cắt giảm. Ngoài ra acetogenins còn chặn đứng đươc sự tăng trưởng của các tế bào đa  kháng thuốc (MDR cells- multiple drug resistant cells), điều mà các phương  cách trị liệu qui uớc hay không tập quán  khác không làm đươc

image016
Thể hạt sợi (mitochondria), trông giống như  khúc xúc xích, có  trong dịch nền chất tế bào (hyaloplasm) và có nhiệm vụ sản xuất năng lương. Thể hạt sợi chứa nhng enzym giúp chuyển hoá vật liệu mà thực  phẫm cung cấp ra thành ATP ( adenosine triphospate), nguồn cung ứng năng lương trực tiếp cho tế bào.

Các acetogenins trong pawpaw giúp chống ung thư theo bốn cách sau đây:

1-ngưng hoặc làm chậm lại việc sản xuất năng lưọng  trong các tế bào bất bình thường bằng cách chặn đứng việc sản xuất ATP trong các thể hạt sợi (mitochondria)  và các chất dịch bào tương (cytosol)

2-ngăn chặn sự tăng trưởng của các mạch máu ờ bên trong hoặc ở gần khối u

3-làm giảm các khối cấu trúc DNA và RNA cần thiết cho sự phân chia các tế bào bất bình thường

4-tiêu diệt các tế bào có tính đề kháng đối với hóa trị liệu  ( sau một thời gian trị liệu, các tế bào ung thư có thể nhận  ra sự bất lợi của hoá trị liệu và trở thành hoá đối kháng)

Thí nghiệm cho thấy các hợp chất paw paw mạnh gấp 300 lần thuốc taxol,  mạnh hơn thuốc cisdplatin, ít làm bệnh nhân giảm cân  và làm khối u teo bớt lại. Thuốc taxol làm trọng lượng chuột giảm 10 phẩn trăm  trong khi đó hợp chất paw paw lại làm chuột tăng ký.

Vấn đề an toàn dược liệu

Bạn không nên dùng pawpaw cùng với các chất dinh dưỡng bổ sung như CoQ10 và các chất kích thích tuyến giáp vì CoQ10 tăng hoạt tính của các thể hạt sợi còn các chất kích thích tuyến giáp làm tăng việc sản xuất năng lượng tế bào. Còn các chất chống oxi hoá có thể đảo đổi tác dụng của pawpaw lên các tế bào ung thư

Một nghiên cứu mới đây cho biết là uống nhiều trà và ăn nhiều trái cây thuộc họ annonaceae  (annona muricataA. squamosa) có thể gây bệnh Parkinson không điển hình. Điều này xẩy ra là vì trong paw paw có chất alkaloid benzyltetrahydroisoquinoline có tính độc đối với thần kinh . Vì vậy  khi điều chế các dịch chất annonaceous người ta phải loại bỏ chất alkaloid này

  • Pawpaw-Wikipedia

  • Pawpaw: Alternate Cancer Treatment- alternateconcer.us  

  • Pawpaw tree, leaves and links – cranburylins.org (do bạn Thieu Vu chuyển tới) 

  • The healing power of pawpaw- Linn Wiggins- 19/02/08 (do bạn Thiệu Vu chuyển tới)

Summer June 19 - 2013 (72)

Chuyển đến trang: 123, 4, 57891011, 1213141516,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s