Chân – Thiện – Nhẫn là cội nguồn của những điều tốt đẹp

Chân – Thiện – Nhẫn
là cội nguồn của những điều tốt đẹp

Tại sao Phật lại nói: ‘Điều ý nghĩa nhất của sinh mệnh con người chính là quay trở về’

Sống trong cuộc đời, ai ai cũng phải tranh đấu ngược xuôi để có tiền, quyền, danh lợi… Nhưng đến khi hai mắt khép lại, bao nhiêu phấn đấu cả cuộc đời cũng chìm vào hư ảo. Của cải ấy, ‘khi sinh không đem đến, khi tử không mang theo’. Vậy thì điều gì mới là ý nghĩa nhất với sinh mệnh đời người?

Câu chuyện sau đây sẽ là câu trả lời cho điều đó.

Năm 1921, Lewis Lawes trở thành giám đốc nhà tù nổi tiếng khủng khiếp ở Mỹ. Catherine, vợ của Lawes là một phụ nữ đặc biệt. Lúc Lawes tiếp quản nhà tù, Catherine vẫn còn khá trẻ dù họ đã có ba đứa con. Khi đó tình trạng trại giam khá hỗn loạn và nguy hiểm, ai cũng khuyên can, song họ không ngăn được bà thường xuyên đến đó.

Dường như bà không thấy có bất kì sự nguy hiểm nào khi đối diện với các tù nhân, mặc dù nhà tù nơi chồng bà cai quản nối tiếng về những tù nhân bất trị, đã phạm những tội ác đáng sợ.

Các tù nhân thường thấy bà đến, gương mặt bình thản, thân thiện, bà đẹp và dịu dàng, mỗi căn phòng nơi giam giữ các phạm nhân bà đều ân cần dừng lại, hỏi thăm, chia sẻ với họ đôi câu chuyện.

Một hôm, nhà tù tổ chức giải đấu bóng rổ, bà đưa 3 con nhỏ của mình đến xem, bà còn không ngần ngại ngồi xem trận đấu chung với các tù nhân. ‘Vợ chồng tôi đều rất quan tâm đến họ. Và tôi tin họ cũng sẽ quan tâm đến chúng tôi. Tôi không thấy có điều gì cần đáng lo cả.’ – Bà nói khi ai đó lo ngại cho bà.

Trong số tù nhân có một người mù, từng bị kết tội giết người, Catherine đã đích thân đến thăm anh ta. Bà cầm tay người tù hỏi:
– Anh có được học chữ dành cho người mù không?
– Người mù đọc chữ là sao, tôi không hiểu? – Anh ta trả lời.

Vậy là bà bắt đầu dạy anh ta chữ nổi. Nhiều năm sau, anh vẫn thường khóc mỗi khi nhắc đến bà.

Một người tù khác bị câm điếc, Anh không thể giao tiếp với mọi người. Thế là bà lặn lội đi học ngôn ngữ cử chỉ để về dạy cho anh. Trong gần 20 năm, bà thường xuyên lui tới nhà tù để giúp đỡ các tù nhân.

Nhưng không may, một ngày khi đang trên đường bà bị tai nạn giao thông và qua đời. Lawes phải lo đám tang cho vợ nên vắng mặt và một người khác đã tạm thời quản lý nhà tù thay ông.

Ngay lập tức, đã có chuyện không ổn xảy ra. Một đám đông tù nhân đã tập trung ở cổng lớn vào buổi sáng hôm mai táng Catherine, nhất định không chịu giải tán, trong đó có cả những tù nhân hung dữ với tội ác tày trời. Nhiều người trong số họ đã rơi nước mắt.

Hiểu được tình cảm họ dành cho Catherine, người quản trại tạm thời nói:
– Được rồi, các anh có thể đi tiễn Catherine, nhưng nhớ quay về trại trước khi trời tối.

Sau đó, ông ra lệnh mở cổng chính để tất cả tù nhân đến nhà Lawes nhìn mặt Catherine lần cuối. Không có bất kỳ giám thị nào đi theo họ cả. Dòng người xếp hàng ngay ngắn, đi bộ suốt gần một dặm đến nhà Lawes. Đêm ấy, họ trở về đông đủ, không thiếu một ai.

Mạnh Tử đã từng nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”.

sept-5-2013-9

Mạnh Tử – Một học trò xuất sắc của Khổng Tử có câu: Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nghĩa là bản tính nguyên sơ của mỗi người trong chúng ta đều là lương thiện. Thế nên chúng ta thường thấy mỗi đứa trẻ khi mới sinh ra đều đẹp tựa thiên thần.

Nhưng rồi trong dòng xoáy cuộc đời, trải qua bao năm tháng biến động, tranh đấu, bon chen, nhiều người trong họ có thể đã biến đổi thành tàn ác, xấu xa. Người đời cũng không ai muốn tôn trọng hay yêu mến họ nữa.

Vậy tại sao Catherine có thể đối xử với họ như thế? Tại sao bà không thấy sợ, khinh bỉ hay căm ghét những người đã phạm phải lầm lỗi đáng sợ hoặc đáng khinh.

Chẳng phải trong lòng bà không hề nghĩ chi đến những tội ác họ đã từng phạm phải, chẳng phải bà chỉ nhìn thấy ở họ một sinh mệnh vốn dĩ là lương thiện và bà tin rằng cái cội rễ ấy vẫn ở sâu thẳm trong tâm hồn họ và không bao giờ mất hẳn.

Chẳng phải bà hiểu rằng, không ai hoàn mỹ, ai cũng có thể mắc sai lầm. Có thể lớn, có thể nhỏ. Nhưng nếu chỉ nhìn vào sai lầm hay cái xấu của người khác thì trong tâm trí ta cũng chỉ tràn ngập bóng tối của những thứ xấu mà thôi. Và điều đó cũng không thể khiến họ tốt hơn hay khác đi.

Điều quan trọng hơn cả sự trả giá, là sự biết nhìn lại, nhận ra và ‘phản bổn quy chân’, quay trở về với bản tính thuần thiện trong trẻo mà mỗi chúng ta đều đã từng có và có thể đã đánh mất trong những năm tháng đầy biến động của cuộc đời.

Nhà tù có thể giam giữ thân thể, nhưng bao dung và từ bi mới cứu chuộc được tâm hồn. Mới có thể thực sự đưa con người từ địa ngục trở về và thấu hiểu đến tận cùng giá trị của tình yêu thương, sự chân thành, tấm lòng lương thiện.

Những điều trao đi, chính là những gì sẽ nhận lại

Những người tù ấy, vào buổi sáng trên con đường đến tiễn đưa Catherine, trong tâm hồn họ chẳng phải sẽ tràn ngập ánh sáng chiếu rọi từ thiên đường, nơi tình yêu, sự chân thành, nhân hậu mà bà đã dành cho họ. Và chẳng phải cái mầm thiện lành bà đã gieo vào tâm hồn họ trong những năm tháng bà còn sống, bằng những ân cần, trìu mến và bao dung ấy đã nảy nở và đơm hoa trong tâm hồn những con người tội lỗi.

Và ngay khi chẳng có quản ngục nào đi theo, chẳng có song sắt nào giam giữ thì chính sức mạnh vô hình ấy đã khiến họ không bao giờ làm điều xấu, đã không có tù nhân nào bỏ chạy. Bởi vì họ sẽ sống xứng đáng với sự từ bi, cao thượng mà bà dành cho họ.

Phật gia cho rằng: ‘Điều ý nghĩa nhất của sinh mệnh đời người chính là quay trở về, trở về với bản tính thuần chân nguyên sơ trong mỗi người.‘ Và rằng, Chân – Thiện – Nhẫn là cội nguồn của những điều tốt đẹp..

Nhẫn mới có thể tha thứ, bao dung với lỗi lầm của người khác, có Thiện mới có thể đem điều tốt lành trao cho người khác, có Chân mới có thể làm mọi việc từ đáy lòng mà không giả tạo.

Hãy giữ gìn và vun xới hạt mầm tốt đẹp đó trong lòng mỗi con người, bởi vì không phải chính trị, tiền bạc, dầu mỏ, kim cương mà chính cội nguồn sâu thẳm tạo nên sinh mệnh và vũ trụ ấy mới có thể cứu rỗi thế giới này.

Lam Thư

Nguồn: thời báo Đại Kỷ Nguyên

Cúc Thạch thảo 2013

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Forsythia, loài mai vàng đất lạ

Forsythia, loài mai vàng đất lạ

NTTK  (Thụy Điển)
.

 Ở mảnh đất châu Âu lạnh giá suốt mùa đông này, giữa trùng trùng gió lạnh và tuyết phủ, có một loài hoa tự trút hết lá, bung mình trỗi dậy và làm sáng bừng cả một góc trời đông báo tiết Xuân về. Đó là hoa Forsythia – một loài hoa như “cứu cánh” của những người con Việt Nam đón Xuân trên đất khách.
.

Mai vang 2015

Trong những ngày tháng chạp lang thang trên những con phố thưa vắng người của Thụy Điển, tôi cố dõi mắt kiếm tìm trong những cửa hàng hoa những loài hoa quen thuộc ở quê nhà nhưng đều vô vọng.

Ngang qua những căn nhà có những chậu hoa bé xinh đặt bên khung cửa sổ sẻ chia cái đẹp với khách bộ hành, chợt thấy thèm làm sao sự hiện hữu của một chậu vạn thọ hay cúc vàng. Hoa châu Âu vẫn nhiều, vẫn đẹp và đủ sức làm cảnh sắc mùa đông bớt phần u ám nhưng với một kẻ tha hương làm trú khách trên đất này, tôi vẫn nhận ra những thiếu thốn lớn lao.

Rồi một buổi chiều cận Tết. Tôi được bạn dẫn đến một cửa hàng hoa ở khu chợ trời và nhìn thấy những cành như mai vàng với những nụ còn e ấp. Người thanh niên bán hoa cũng là một người Việt, như thấu hiểu lòng tôi, anh rất nhiệt tình bảo hoa này cũng nở hoa vàng, tương tự như mai ở Việt Nam và Tết nào anh cũng mang về chưng trong nhà để cùng có Tết như Việt Nam. Anh cẩn thận viết cho tôi tên gọi của nó Forsythia và bảo thêm là nó có họ hàng với cây ô-liu.

Tôi đã có những cành forsythia cho mình và cảm ơn người bán hoa như thể mình vừa được tặng một món quà quý báu. Tôi nôn nao chờ ngày forsythia bừng nở như thể mong chờ ngày Tết thuở ấu thơ.

Lên mạng tìm kiếm hình ảnh forsythia, tim tôi như thắt lại trước những cánh hoa vàng hệt như mai, cái sắc vàng như thắp nắng không lẫn vào đâu được. Rực rỡ đến nao lòng. Cánh hoa forsythia không đầy đặn như mai mà dài, mỏng và 4 cánh chuỗi ra như hình chiếc chuông. Ở giữa cũng có điểm xuyết nhụy vàng bé nhỏ.

Forsythia có lẽ còn giống mai rừng ở điểm không cần chăm sóc đặc biệt, thường mọc dại ven bờ rào hoặc trong những cánh rừng và cũng là loại hoa vàng báo hiệu mùa Xuân. Khác biệt là ở chỗ forsythia luôn tự mình trút  sạch lá trước khi nảy nụ và đơm hoa.

Sau khi hoa tàn thì forsythia mới bắt đầu đâm chồi nảy lộc đổi cây thành màu xanh mướt. Forsythia còn là loài hoa thắp nắng của mùa đông giá lạnh trên một vùng đất bao la trải dài từ châu Âu sang châu Á và cả ở châu Mỹ.

Forsythia. Hôm nay, tôi chợt vui và ấm lòng khi mang được những cành hoa dại của châu Âu đem đặt trang trọng giữa phòng mình như một vật báu. Forsythia, xin mượn hình ảnh rực sáng và tỏa nắng kia để tôi được xuôi về quê hương trong tâm tưởng.

Hôm nay, tôi ngồi bên ô cửa mùa đông này, nhìn forsythia, nhìn những cành đông trụi lá, những con sóc chuyền cành và bầy chim di thê bay từng đàn như trôi qua bầu trời. Đêm 30 tết, tôi nhìn forsythia và nghe đi nghe lại bản vọng cổ “Xuân đất khách”, “Câu chuyện đầu năm”, “Bài ca tết cho em”.. và nghe trong lòng mình một nỗi nhớ quê, nhớ Tết tưởng đã được giấu đi trong lớp tuyết dày, được xóa đi trong cảnh vật xa lạ của trời Tây vốn chẳng có chút gì hoài niệm.

Forsythia, từ đêm nay, xin cho tôi về lại quê hương bằng sắc hoa vàng rực rỡ ấy… Xin cho tôi được gọi forsythia là mai vàng. Loài mai vàng đất lạ đã mang đến cho tôi – những người con xa xứ – thứ hương sắc quen thuộc của mùa Xuân, cho tôi được thở cùng nhịp thở mùa Xuân với quê nhà yêu dấu…

NTTK  (Thụy Điển)
Nguồn: tuoitre online

Tet 2000 (4)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Lung Linh!

Lung Linh!

Đôi khi cái thừa vn vt trong mắt người khác nhưng lại là đủ với mình nếu biết đủ…
(hoa vụng cắm cắm ra thành bình hoa vui tươi mừng Năm Mới )

flowers-2017-m

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

NOEL!

NOEL!

Ngày lễ Giáng Sinh, trẻ con rất thích ông già Noel. Vấn đề đặt ra là ‘ông già Noel có thật hay không?’ Nhu yếu của cuộc sống bắt buộc phải có ông già Noel. Nếu không có ông già Noel, chắc chắn cũng sẽ có một ông già khác. Đây không phải là vấn đề tôn giáo mà là văn hóa. Trong văn hóa Tây phương, nếu không có ông già Noel thì sẽ thiếu vắng rất nhiều. Vì vậy cho nên có ông già Noel hay không có ông già Noel như một nhân vật lịch sử không phải là vấn đề then chốt.

Khái niệm của trẻ em về ông già Noel rất dễ thương, rất ngây thơ: ‘Ông già Noel thường mặc áo đỏ, đội nón đỏ có cái chuôi dài, đi đôi hia cao cổ (tại vì đi trên tuyết), và một bộ râu dài bạc phơ. Phương tiện chuyển vận của ông không phải là xe taxi, mà là một chiếc xe trượt tuyết có những con nai kéo. Khi tới nhà mình, ông không vào bằng cánh cửa chính (tại vì cửa đã được đóng vào giờ ấy), mà chui từ trên ống khói xuống, và ông chui rất hay, thành thử ra áo quần của ông không bị dính lọ nghẹ. Ông không bị đốt nóng, dù lúc đó củi vẫn còn cháy. Ở chỗ bếp lửa đêm hôm ấy, bọn trẻ con đã treo những chiếc vớ của chúng trước khi đi ngủ. Chúng tin rằng vào nửa đêm ông già Noel sẽ tới và sẽ bỏ vào vớ những món quà chúng thích.’ Chúng thật sự tin như vậy. Nếu chúng ta lấy mất niềm tin đó của bọn trẻ con, thì tội nghiệp chúng quá. Nếu một đứa bé bốn tuổi, năm tuổi nghe nói ông già Noel không có thật thì nó sẽ buồn biết mấy.

Vì vậy, chắc chắn phải có ông già Noel cho bọn trẻ con. Ông già Noel nghe được ước vọng của bọn trẻ con. Bọn trẻ con muốn cái gì ông cũng biết và ông cho ngay cái đó. Ước vọng của bọn trẻ con là một cái gì có thật. Những người nghe và hiểu được cái ước vọng đó cũng là những người có thật. Đó là những ông già Noel đích thực. Ông già Noel đích thực không cần phải có râu dài màu trắng, không cần phải mặc áo đỏ, không cần phải đi hia đỏ. Nếu chúng ta kẹt vào tướng của ông già Noel, thì chúng ta không thấy được ông già Noel. Vậy thì có ông già Noel, hay không có ông già Noel? Đó không phải là vấn đề. Chúng ta phải nhìn ông già Noel bằng con mắt vô tướng. Nếu trong quá khứ ta đã từng có một quan niệm về ông già Noel, thì quan niệm đó có thể là quan niệm ngây thơ của một em bé. Một mai ta bừng tỉnh, ta mỉm cười, biết rằng mình đã vượt thoát ý niệm ngây thơ về ông già Noel. Vượt thoát rồi, nhưng ta vẫn duy trì hình ảnh ông già Noel cho thế hệ tương lai.

Bụt cũng vậy, Chúa cũng vậy, đều là những ông già Noel cả. Nhưng nếu ta cho rằng những hình ảnh đó là những sản phẩm hoàn toàn của tưởng tượng thì cũng không đúng. Tại vì ông già Noel cần thiết cho cuộc đời. Bụt, Chúa, các vị Bồ-tát cần thiết cho cuộc đời. Tuy vậy, nếu ta muốn lớn lên, không phải về mặt tuổi tác mà về đời sống tâm linh, ta muốn tiếp xúc được với sự thật thì ta phải có khả năng buông bỏ những ý niệm, những hình ảnh trẻ thơ của ta. Ta từng có quan niệm về Bụt, về Chúa, và ta đã sống với quan niệm đó từ thời ấu thơ. Khi được học hỏi, thực tập, từ từ ta có khả năng buông bỏ những quan niệm trẻ thơ ấy về Bụt và về Chúa.

Thầy Thanh Văn hồi còn năm, sáu tuổi, có ý nghĩ rằng Bụt rất ưa ăn chuối, tại vì ai tới chùa cũng cúng chuối. Bụt đợi cho đến khi chùa vắng lặng hoàn toàn, mới đưa cánh tay ra bẻ một trái chuối mà ăn. Đến khi thầy lớn lên thì cái thấy đó về Bụt không còn nữa, nó được thay thế bằng những cái thấy khác. Vì vậy, ta phải buông bỏ những cái tướng để sự thật có thể hiển bày ra được. Nếu chúng ta không buông bỏ cái tướng ông già Noel, thì làm sao ta thấy được ước mơ của bọn trẻ con và lòng thương yêu của những bậc cha mẹ? Ông già Noel có mặt trong những em bé, và có mặt trong những người cha, những người mẹ. Ông già Noel là một phẩm vật sáng tạo của tâm thức. Là sáng tạo phẩm thì nó phải có thật chứ sao không có thật được? Sáng tạo phẩm đó được nhận thức qua một hình thái trong văn hóa do con người vẽ ra. Người ta vẽ ra hình Bụt, người ta vẽ ra hình Chúa, người ta vẽ ra hình Bồ-tát, người ta vẽ ra hình ông già Noel.

Nhưng rốt cuộc ta cũng phải lớn lên trong đời sống tâm linh của ta. Ta phải phá tan những hình ảnh mà con người đã vẽ ra để có thể tiếp xúc với sự thật. Không phải Bụt không có, Chúa không có, tình yêu không có, bác ái không có. Đó là những thực tại, nhưng không phải là những đối tượng mong cầu đang có mặt ở ngoài ta. Nó không phải là cái gì khác (the other, l’autre), nó không phải là một thực thể độc lập có ngoài tâm thức ta, ngoài con người ta, ngoài sự sống của ta. Khi thấy được như vậy, thì ta không còn tìm cầu, không còn theo đuổi nữa. Ta không đánh mất bản thân của ta, không lâm vào cái mặc cảm ta là con số không. Lưỡi gươm trí tuệ là lưỡi gươm có thể chặt đứt được tất cả những khái niệm đó, những ảo ảnh đó, những tướng trạng đó, những hình thức đó.

Nguồn: Làng Mai

grottos-2015-a

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đôi tay cầu nguyện

Đôi tay cầu nguyện

Vào thế kỷ 15, tại một làng nhỏ nọ, có một gia đình có tới 18 người con. Cha của họ phải làm việc tới 20 tiếng đồng hồ mỗi ngày mà cả gia đình chỉ đủ để đắp đổi qua ngày. Thế nhưng, hai người con lớn trong nhà vẫn có nhiều mơ ước. Cả hai đều muốn học vẽ vì họ có năng khiếu từ nhỏ.

Sau không biết bao nhiêu buổi nói chuyện suốt đêm trên chiếc giường đông chật anh em, hai người con lớn có một quyết định. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Còn người thắng, sau 4 năm học, sẽ chu cấp tài chính cho người còn lại đi học, dù bằng cách bán tranh hay phải đi làm thợ mỏ.

Đồng xu được tung lên, Albrecht Durer thắng cuộc và được đi học. Albert thua, và đi tới vùng mỏ đầy nguy hiểm, và trong suốt 4 năm, làm lụng để nuôi người anh em của mình ăn học.

Gần như ngay lập tức, những tác phẩm của Albrecht được rất nhiều người nhắc đến, bởi chúng thậm chí còn đẹp hơn cả tác phẩm của các bậc thầy trong trường. Và cho đến khi tốt nghiệp thì Albrecht đã bán được khá nhiều tranh và dành dụm được một khoản tiền.

Khi anh trở về, trong bữa ăn sum họp, Albrecht đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh 4 năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Và Albrecht nói:

– Anh Albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy tới Nuremberg để theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình.

Albert mỉm cười, rồi bật khóc:

– Không, anh không thể tới Nuremberg được. Đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau 4 năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi…

Hơn 450 năm đã qua. Cho tới bây giờ, hàng trăm bức chân dung, tranh màu nước, tranh than chì, tranh khắc gỗ và khắc đồng… của Albrecht Durer đã được treo ở những Viện bảo tàng lớn nhất thế giới. Nhưng có một điều kỳ lạ: có thể bạn, cũng như nhiều người, đều chỉ quen thuộc với một tác phẩm của Albrecht Durer.

Đó là một ngày, để tỏ lòng kính trọng và biết ơn anh trai Albert, Albrecht Durer đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trời. Ông chỉ gọi bức tranh của mình đơn giản là “Đôi tay”, nhưng cả thế giới đều đặt tên cho kiệt tác đó là “Đôi tay cầu nguyện”.

Nếu có lúc nào bạn nhìn vào bức tranh cảm động đó, hãy nhìn lại lần thứ hai. Nó sẽ nói với bạn rằng, không có ai, chắc chắn không có ai, có thể thành công một mình bao giờ!

Nguồn: LờiTráiTim

praying_hands_at_dusk_on_the_campus_of_oral_roberts_university

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Nửa đời người tôi học được

Nửa đời người tôi học được

– Nửa đời người tôi học được, đúng và sai chỉ đơn giản là hai thái cực của con người đặt ra.

– Nửa đời người tôi học được, công danh có thể làm mình tự hào nhưng nó không là mãi mãi.

– Nửa đời người tôi học được, tiền tài có thể làm mình hạnh phúc nhưng như người ta nói: khi bạn nhắm mắt, thứ bạn đem theo được chỉ là những gì bạn đã cho đi.

– Nửa đời người tôi học được, có những việc mình phải bỏ xuống khi mình đã chẳng còn có thể níu kéo.

– Nửa đời người tôi học được, những con sóng kéo nhau vào bờ rồi sẽ tan nhưng người đời biết đến sự hiện diện của chúng.

– Nửa đời người tôi học được, tình yêu sẽ không là vĩnh cửu vì có một ngày tình yêu ấy có thể phôi pha.

– Nửa đời người tôi học được, đời người là hữu hạn nên không cần phải chất chứa hận thù mà hãy chan hòa bằng tình yêu thương, sẻ chia.

– Nửa đời người tôi học được, mỗi ngôi sao trên trời có vẻ đẹp riêng của chúng, và mỗi người đều có thể tỏa sáng theo cách rất riêng của mình.

– Nửa đời người tôi học được, có lắm lúc mình đã chùn chân mỏi gối nhưng mình vẫn có thể gượng đứng dậy.

– Nửa đời người tôi học được, trong cuộc đua mình có thể không về đầu, vì điều còn đọng lại trong lòng người là cái cách mà mình kết thúc con đường ấy .

– Nửa đời người tôi học được, kinh nghiệm sống không phụ thuộc vào số năm mình đã sống, mà nó phụ thuộc vào cách mình đã sống những năm qua.

– Nửa đời người tôi học được, câu nói của ông bà ta ngày xưa: khi con người ta ba mươi, con người ta sẽ khác.

– Nửa đời người tôi học được, tại sao phải chọn một trong hai con đường, khi hai con đường có thể song hành cùng nhau.

– Nửa đời người tôi học được, đớn đau rồi sẽ qua điều quan trọng mình có dám đối diện.

 – Nửa đời người tôi học được, hạnh phúc đích thực không phải cứ là ở bên cạnh nhau, mà đơn giản là con người ta hiểu nhau.

 H.Đ (ST)

Nang Thu 2014 (145) - Copy

Nếu có ánh sáng trong tâm hồn, vẻ đẹp sẽ có ở người đó.

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ngụ ngôn về Tình Yêu

Ngụ ngôn về Tình Yêu

Chuyện kể rằng ngày xưa, có một hòn đảo – nơi có tất cả mọi cảm xúc sinh sống : Hạnh phúc, Giàu có, Nỗi buồn, Tri thức và những cái khác bao gồm cả Tình yêu.

Một ngày kia, các cảm xúc được thông báo rằng hòn đảo sẽ chìm. Vì vậy tất cả đều đóng thuyền và rời đi ngoại trừ Tình yêu. Tình yêu là người duy nhất ở lại.

Tình yêu muốn chống chọi đến giây phút cuối cùng. Khi hòn đảo sắp chìm, Tình yêu mới quyết định nhờ giúp đỡ. Sự giàu có đi ngang qua trên 1 chiếc thuyền rất lớn, Tình yêu nói : ” Giàu có ơi, có thể đưa tôi đi cùng không ? ” Giàu có trả lời : ” tôi không thể, trong thuyền có rất nhiều vàng bạc, đây không có chỗ cho anh đâu ” . Tình yêu bèn quyết định nhờ Phù hoa, người cũng đi qua trên một con tàu rất đẹp . ” Phù hoa ơi , hãy giúp tôi !”. “Tôi không thể giúp anh Tình yêu ạ ! Anh quá ẩm ướt và có thể sẽ làm hỏng tàu tôi” Phù hoa trả lời.

Nỗi buồn đang ở gần đó, Tình yêu nói: “Nỗi buồn ơi! Hãy cho mình đi với cậu”. “Ôi Tình yêu, mình buồn quá, mình chỉ muốn được ở một mình”. Bỗng nhiên có 1 tiếng gọi: “Lại đây Tình yêu. Ta sẽ đưa cháu đi”, đó là 1 người lớn tuổi. Quá vui mừng và sung sướng, Tình yêu quên cả hỏi xem họ đi đâu. Khi đến 1 miền đất khô ráo, người lớn tuổi ấy lại tiếp tục đi con đường của mình.

Tình yêu hỏi Tri thức – một người lớn tuổi khác.

– Ai vừa giúp cháu vậy ?

– Đó là Thời gian – Tri thức trả lời.

– Thời gian ư ? – Tình yêu hỏi – Nhưng tại sao lại giúp cháu.

Tri thức mỉm cười khôn ngoan rồi nói: “Bởi lẽ chỉ có Thời gian mới hiểu được giá trị của Tình yêu”.

Người ta nói rằng: “Bạn chưa cần đến 3 giây để nói “I love you”, chưa đến 3 phút để giải thích câu nói ấy, chưa đến 3 ngày để cảm nhận được ý nghĩa của nó, nhưng để chứng minh câu nói đơn giản ấy thì cả cuộc đời vẫn là chưa đủ”.

Thực vậy, đâu dễ để nói “I Love you” với người xa lạ, càng đâu dễ để thổ lộ với người thù ghét chúng ta. Xem ra con người còn cần nhiều thời gian để thấy giá trị của tình yêu, để có thể sống cho tình yêu. Con người còn cần nhiều thời gian để học yêu thương và thực hành yêu thương. Con người phải học cách yêu thương ngay cả với những con người còn khiếm khuyết, còn bất toàn ……

Nguồn: Legio Mariae – Đạo Binh Đức Mẹ

9-yellow-purple-brian-valentine-macro-photography

Posted in Uncategorized | Leave a comment