Ngày Lễ Tạ Ơn Tại Hoa Kỳ

Ngày Lễ Tạ Ơn Tại Hoa Kỳ

Radio

Vì nước Mỹ là một quốc gia mới được thành lập bởi những di dân từ khắp nơi trên thế giới tới, nên ngày lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), lễ của di dân mang một tính chất trang trọng, nó gợi lại cho tất cả mọi di dân một tâm trạng hết sức đặc biệt, một phần nhớ lại nguồn gốc tổ tiên của mình, một phần nhớ lại sự khó khăn của những ngày đầu tiên trên mãnh đất mới này và nhớ lại những ân sũng đã được Thượng Đế đã ban cho từ trước tới nay. Lễ Tạ Ơn không phải là ngày lễ riêng biệt của một tôn giáo nào, nó cũng không có tính chất chính trị để tưởng niệm một cá nhân, một biến cố lịch sử của dân tộc nào, vì những lý do đó chúng ta nên tìm hiểu sự tích của ngày lễ này chung cho tất cả mọi di dân.

Ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ đã được cử hành vào tháng chạp năm 1621 khi nhóm di dân Pilgrims từ con tàu Mayflower. Sau khi đặt chân lên vùng đất thuộc tiểu bang Massachusett đã xây dựng thành công cộng đồng Plymouth của họ. Sau một năm tranh đấu gian khổ với thiên nhiên, sau khi hơn nửa dân số đã chết vì bệnh tật và đói khát, họ đã tồn tại một phần là nhờ sự giúp đở của thổ dân da đỏ cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng. Các di dân đó đã làm lễ Tạ Ơn Thượng Đế đã ban cho họ một mùa gặt hái thành công khiến họ và con cái họ có thể tồn tại được trên vùng đất mới này, và từ đó sinh sôi nẩy nở phát triển cho đến ngày nay.

Lễ Tạ Ơn đã được cử hành trên khắp nước Mỹ, nhưng mỗi nơi cử hành theo phong tục tập quán riêng biệt của các dân tộc đem theo từ cựu lục địa Âu, Á không vào một ngày nào nhất định, và hình thức cũng khác nhau tuỳ theo dân tộc tính của mỗi nơi.

Nhưng khi các di dân Mỹ bắt đầu phát động cuộc chiến cách mạng để giải phóng dân tộc khỏi sự đô hộ của đế quốc Anh thì tính chất đặc thù dân tộc của ngày lễ Tạ Ơn bắt đầu được xác định. Tướng Washington sau khi thoát khỏi cuộc bao vây ở Valley Forts đã ban hành luật dựng nên ngày lễ Tạ Ơn Thượng Đế đã cứu thoát quân giải phóng vào ngày 26 tháng 11 năm 1789. Mục đích là để tạo nên tinh thần đoàn kết giữa tất cả những di dân chống lại ngoại xâm.

Đến năm 1830 khi tình hình chia rẽ dân tộc bắt đầu khơi mào thì các tiểu bang miền Bắc tuyên cáo thành lập ngày lễ Tạ Ơn để giử vững nền móng Quốc Gia và sau đó bà Sarah Hale là người có công đi cổ động trên khắp nước Mỹ để có được một ngày lễ Tạ Ơn đồng nhất cho tất cả các tiểu bang. Đến khi cuộc chiến Nam Bắc nước Mỹ đang ở vào thời kỳ ác liệt nhất, các tiểu bang miền Nam đòi ly khai thì tổng thống Lincoln nhận thấy rằng cần phải tìm ra một phương thức nào đó để xây dựng sự đoàn kết dân tộc, và ông đã nhận ra được tầm mức quan trọng của ngày lễ Tạ Ơn, ngày tưởng niệm các di dân. Ông muốn nhắc đến công ơn của các di dân đầu tiên đã xây dựng nên nước Mỹ. Để cố hoà giải sự chia rẽ Bắc Nam thời đó, ông tuyên bố chọn ngày thứ Năm cuối cùng của tháng 11 năm 1863 làm ngày lễ Tạ Ơn.

Đến năm 1941 thì Quốc Hội Mỹ đang trong thời kỳ đệ nhị thế chiến, đã biểu quyết ngày lễ Tạ Ơn là ngày quốc lễ của toàn thể liên bang. Mỗi khi vận mệnh đất nước bị lâm nguy là người dân Mỹ cảm thấy cần đến ngày lễ Tạ Ơn hơn lúc nào hết, để tưởng nhớ đến sự hy sinh, những khó khăn mà tiền nhân đã trải qua và cùng nhau sát cánh để đối đầu với những khó khăn hiện tại.

Sau bao nhiêu thay đổi, ngày lễ Tạ Ơn ngày nay đã trở thành một ngày lễ được người Mỹ tôn trọng nhiều nhất, bất kể tôn giáo, nguồn gốc dân tộc. Người Mỹ thường hội họp gia đình vào ngày lễ Tạ Ơn sau khi đi lễ ở nhà thờ thì họ họp nhau lại ăn một bửa cơm trưa rất lớn gồm có gà tây, mứt, cranberries, bánh bí đao, bắp và nhiều loại rau trái. Những món này là những món ăn thuần tuý của vùng New England, cái nôi văn hoá của nước Mỹ.

Mặc dù đã trải qua hơn 200 năm với một nước Mỹ luôn luôn thay đổi, nhưng những món ăn này vẫn không hề thay đổi. Vì ngày lễ này nhằm ngày thứ Năm nên một số học sinh, sinh viên, công tư chức được nghỉ luôn cho đến ngày Chủ nhật, do đó các buổi tiệc được kéo dài thêm vài ngày nữa. Đến cuối tuần thì họ rủ nhau đi coi môn thể thao được ưa chuộng nhất của người Mỹ là môn foot ball (banh bầu dục).

Tuy rằng nguồn gốc của ngày lễ Tạ Ơn xuất phát từ một hoàn cảnh đặc biệt hiểm nghèo của nhóm di dân đầu tiên đã sống sót trên lục địa mới này. Ngày lễ này thực ra đã có nguồn gốc rất xa xưa bắt nguồn từ những nền văn minh nông nghiệp cổ kính trên khắp thế giới. Tất cả các dân tộc sống bằng nghề nông đều có một ngày lễ đặc biệt để tạ ơn Trời Đất đã ban cho họ một mùa gặt hái thành công, giúp họ không bị đói kém.

Các di dân Pilgrims đã làm lễ tạ ơn Thượng Đế dựa theo lễ La Mass gọi là lễ dâng bánh ở bên nước Anh, khi người nông dân đem miếng bánh đầu tiên làm bằng lúa của mùa gặt mới dâng lên Thượng Đế vào ngày mồng một tháng 8 hàng năm. Các dân tộc khác thì cũng có những lễ tạ ơn Thượng Đế tuỳ theo tôn giáo của họ. Nói chung là tất cả các di dân hầu hết trên thế giới đều có một hình thức riêng biệt để tạ ơn Thượng Đế sau mỗi mùa gặt.

Người Việt là nhóm di dân sau cùng đến nước Mỹ, người Việt không giống những giống di dân khác tìm đường sang Mỹ châu phần lớn là vì lý do kinh tế. Nhưng các di dân người Việt lại rất giống các di dân Pilgrims ở chỗ ra đi để đi tìm tự do về văn hoá và tư tưởng. Các di dân người Việt chưa quen thuộc với các tục lệ của người Mỹ, trong đó có ngày lễ Tạ Ơn do đó thường nghĩ rằng ngày lễ này có tính chất tôn giáo hoặc là một ngày lễ riêng của dân Mỹ không quan hệ gì tới mình. Nhưng nếu hiểu được ý nghĩa cao quý của ngày lễ đặc biệt này. Lễ của tất cả các di dân thì có lẽ các di dân người Việt cũng có thể hồi tưởng lại những khó khăn lúc ban đầu khi mới tới nước Mỹ. Tưởng nhớ lại những ân tình của những người bạn tốt không hề quen biết, những cơ quan thiện nguyện đã giúp đỡ mình xây dựng lại cuộc đời.

Radio

Happy Thanksgiving! -1d

Advertisements
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đến một ngày

 

Đến một ngày

[Đến một ngày chúng ta bỗng nhận ra nhiều điều của cuộc sống, như một căn duyên chợt đến để cảm nhận – theo lời người xưa từng nói là ngộ ra.]

Chúng ta bỗng nhận ra sự xuyên suốt lẽ ra phải có trong cuộc sống mình – khi trời đất tĩnh lặng, khi lòng người lắng xuống tận đáy ký ức tâm hồn. Chúng ta chợt thấy những ngày đã qua dù làm được nhiều việc nhưng chỉ là một quán tính của sự cảm nhận cùng lòng say mê chiến thắng và sự tự khẳng định mình.

Một lúc nào đó chúng ta bỗng nhận ra sự vô tình của bản thân với những giá trị khác và những tấm chân tình của người bạn đã xa. Chúng ta thường nhận ra sự chưa hoàn thiện của người khác mà quên đi của chính mình – khi bản ngã kiêu hãnh và cái tôi chen chân đứng cùng một chỗ, khi chúng ta tự cho tầm nhìn của mình là rộng nhất.

Chúng ta chợt cảm nhận được quy luật sâu xa của cuộc sống là quá trình cho và nhận. Chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung, nhìn nhận lại cũng là một sự cho đi và những tổn thương tinh thần tưởng chừng không có nguồn nào bù đắp trở nên nhẹ nhàng như cần phải có.

Autumn reflections - 2sm. -

Chúng ta chợt cảm thấy sự thanh thản, nhẹ nhàng trước những nỗi đau, lỗi lầm, mất mát của ngày hôm qua, sự mới mẻ tinh khôi của ngày hôm nay và đó chính là những gì dành cho ngày mai.

Có lúc chúng ta nhận ra bầu trời lấp lánh ngàn vì sao hay đen kịt âm u dông tố không ngăn được sự bừng sáng của một con tim – ánh sáng rực rỡ của mặt trời chiếu rọi không ấm áp bằng chiếc đèn lồng ký ức tình yêu, và hạnh phúc không phải chỉ là nụ cười mà còn là giọt nước mắt trên bờ vai tin cậy.

Đến một lúc chúng ta cảm thấy sự thừa thãi của ngôn từ, sự ấm lòng của tình thương thầm lặng, ý nghĩa của sự chia sẻ và điểm thiêng liêng trong sáng của ánh mắt ai đó chợt nhìn ta. Chúng ta cảm nhận được sợi dây kết nối mọi người, điểm tĩnh trong chuyển động, sự trường tồn của cuộc sống và chợt thấy khoảnh khắc của ngày hôm nay ý nghĩa hơn ngày hôm qua.

Khuyết Danh

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

PHÉP MẦU GIÁ BAO NHIÊU ?

PHÉP MẦU GIÁ BAO NHIÊU ?

Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “Chỉ có phép mầu mới cứu sống được Andrew“. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép mầu.”

– Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

– Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà bố cháu nói chỉ có phép mầu mới cứu được nó. Phép mầu giá bao nhiêu ạ?

– Ở đây không bán phép mầu, cháu à. Chú rất tiếc. – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

– Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn có một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép mầu gì?”

– Cháu cũng không biết nữa. – Cô bé trả lời, rom róm nước mắt. – Nhưng em cháu rất cần phép mầu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép mầu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép mầu đó.

– Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô-la mười một xu. ”

Người đàn ông mỉm cười: “Ô! Vừa đủ cho cái giá của phép mầu”.

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẩn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép mầu mà em cháu cần không. ”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép mầu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép mầu giá bao nhiêu. Một đô-la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa trẻ, và lòng tốt của người bác sĩ.

Vâng! Niềm tin, sự chân thành và lòng trắc ẩn của con người có thể khiến phép mầu xảy ra!

Hosta Lavender flower 2017 -sm 5 a -
Posted in Uncategorized | Leave a comment

Ta là ai?

Ta là ai?

Nguyễn Duy Nhiên

Tôi có một người bạn, có lần chị đi sang thành phố New York, thấy có một tấm biển quảng cáo thật lớn, với hình một người thiếu niên mặc một chiếc quần jean cũ bạc màu, đứng với với một thái độ thách thức, cạnh bên là một dòng chữ lớn “Be Who You Are!” Mình sao thì cứ là như vậy, hãy sống với con người thật của mình!

Bạn biết không, tuổi trẻ lớn lên bên xứ này bị ảnh hưởng văn hóa Tây phương nên nhiều khi cũng có cùng một thái độ ấy. Tôi biết có những em khi bị các bậc phụ huynh khuyên dạy thường trả lời rằng, “Con là như vậy đó! Con không thể thay đổi được” (I am who I am. And I’m not going to change it!). Mà tôi biết người lớn chúng ta cũng thường khi có thái độ ấy. Mỗi khi bị người thân phê bình ta thường đáp xẵng lại, “Tôi là như vậy đó. Tôi không thể đổi tánh mình được. Chịu không được thì thôi! (That’s the way I am!”)

Nhưng trên con đường tu học, chúng ta nên thử nhìn lại xem mình thật sự là ai? Ta có phải chỉ là sự nóng tánh thôi chăng? Ta có phải chỉ là những ham muốn đó thôi chăng! Thế nào là một cái tôi ảo tưởng và thế nào là cái tôi chân thật? Làm sao ta biết những gì là ta và những gì không phải là ta? Ta có phải chỉ là một người trực tính thôi chăng? Hay ta là một người rộng lượng? Và nếu như ta không còn những tánh đó nữa, ta có vẫn còn là ta không, hay sẽ là một người nào khác?

Vì cái thấy sai lầm

Đôi khi chúng ta nghĩ rằng, khi bước vào con đường tu học ta sẽ phải đánh mất đi sự say mê (passion) và những bén nhạy tự nhiên (spontaneity) của mình đối với cuộc sống chung quanh. Ta sợ thiền tập sẽ khiến ta trở thành một người vô cảm, không còn biết chọn lựa, mình sẽ không còn là mình nữa! Nhưng sự thật có đúng như vậy không?

Tôi thấy vấn đề có lẽ là vì chúng ta có một quan niệm sai lầm về thế nào là tánh tự nhiên của mình. Có thể ta lầm lẫn tính tự nhiên với lại những tập quán và thói quen đang có của mình.

Thật ra phần lớn những hành động mà ta cho là “tự nhiên” ấy, chúng chỉ là những phản ứng bị điều kiện của mình mà thôi. Chúng ta bị điều kiện và sai xử bởi các thói quen và tập quán lâu đời, mà chúng là sự huân tập của những buồn vui, ham muốn, ghét bỏ qua năm tháng. Chúng ta hành xử theo chúng, đôi khi làm mà không hề ý thức được hậu quả của việc mình làm. Và rồi ta bị trôi lăn theo những bận rộn, lo âu của cuộc sống hằng ngày, phản ứng máy móc theo hoàn cảnh chung quanh. Và ta lại vô tình cho đó là con người thật của mình.

Đừng tự giới hạn chính mình

Thật ra thì Phật dạy trong ta có đầy đủ hết tất cả: từ bi, sân hận, tha thứ, ganh tỵ, rộng lượng, si mê, tuệ giác… Ta là tất cả những cái đó chứ không riêng biệt một cái nào hết. Chúng là những hạt giống có mặt trong khu vườn tâm thức của mình.

Vấn đề là ta cần biết chăm sóc và tưới tẩm những hạt giống nào trong ta. Có những hạt giống mang lại cho ta hạnh phúc, tự do và cũng có những hạt giống mang lại sự ràng buộc và khổ đau, mà chúng biểu hiện ra bằng những tập quán và thói quen của mình. Mỗi hạt giống chỉ là một phần rất nhỏ chứ chúng vẫn không phải thật sự là ta. Sự tu học giúp ta thôi tưới tẩm những hạt giống bất thiện và nuôi dưỡng thêm những hạt giống an lành và hạnh phúc.

Nhưng thật ra, chúng ta có cần phải lao tác khó nhọc gì không bạn hả, hay chỉ cần để cho tất cả được trong sáng tự nhiên mà thôi, vì trong ta đã có đủ đầy sự trong lành!

Thật ra nếu ta biết nhìn cho sâu sắc, thì ta sẽ thấy rất rõ rằng cũng không có một người làm vườn, một cái tôi nào, để chăm sóc cho thửa vườn ấy. Nếu ta biết thật sự để yên cho nó được tự nhiên, thì thửa vườn ấy sẽ biết tự chăm sóc lấy nó. Tôi nhớ hai câu thơ của Trúc Lâm Đại Sĩ, tức vua Trần Nhân Tông khi đã đi tu, một lần trả lời câu hỏi của một thiền sinh về chuyện tu học, Ngài nói: “Vườn xưa vắng mặt người chăm sóc, Lý trắng đào hồng tự nở hoa.”

Mình không phải là một mà là nhiều. Sự sống của ta rất là thênh thang. Vì ta không phải là một cái gì duy nhất và cố định cho nên ta lúc nào cũng có thể thay đổi được, chuyển hóa được. Chúng ta to tát hơn những vấn đề của mình, và chúng ta cũng rộng lớn hơn tất cả những khổ đau ấy.

Nguyễn Duy Nhiên
Trích trong “Nói với người bạn tu học.”

Nguồn: NguyenDuyNhien’s blogspot

Hoa Ngoc Lan vang 2017 (sm)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Chi Rồi Cũng Qua

Chi Rồi Cũng Qua

Ri cũng qua đi nhng nhc nhn
Đường đi my đ bước trm, thăng
Nim vui, ni kh tìm mây khói
Còn li yên bình mi bước chân.

Ri cũng nhòa trôi nhng n cười.
Tic tùng, hoa l.. hn phai phôi
Ai người thu hiu đi như mng
Chng tiếc ngày qua, chng ngm ngùi.

Đôi lúc nghe lòng như khói sương!
Cõi tình hư thc gia vô thường
Trăm năm bóng nguyt dòng lưu thy
Mong vt làm chi chut đon trường.

Ri cũng qua dn bao gic mơ
Tr ta v li thu hoang sơ.
Hi người thiên c tng xây mng
Đã toi nơi lòng hay vn chưa?

Ri cũng xuôi dòng trôi tháng năm
Bng bnh danh, li cun xa xăm.
Đã quá na đi nay mi hiu
Ci ngun gia bo vn nơi tâm.

Ngày cũng trôi qua ging mi ngày
Khác là Tnh Thc gia cung say
Xưa tìm hnh phúc trong phin mun
Ch Sng bây ch, Sng ti đây.

Như Nhiên

 

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Con Số Một

Con Số Một

Có những thứ trên đời mình chỉ có thể có một. Trăm ngàn triệu triệu số một chỉ tạo nên có một cuộc đời…

Chỉ có một người mẹ, một người ông, một người bà… để mà yêu thương. Chỉ có một trái tim, một cái đầu, một bộ óc… để mà suy nghĩ, mà chứa đựng cuộc sống cả trăm điều vạn điều vào đó. Chỉ có một lần đầu tiên chui ra từ bụng mẹ để bắt đầu một cuộc thăng trầm. Chỉ có một lần được nghỉ ngơi một cách êm đềm nhất, bỏ hết những âu lo và cả những yêu thương lại phía sau.

Có những thứ trên đời tưởng chừng rất nhiều nhưng xét cho cùng cũng chỉ có một. Thời gian là vô tận nhưng mỗi khoảnh khắc chỉ trôi qua một lần. Chỉ có một ngày sinh nhật tuổi 15, một ngày sinh nhật tuổi 20… Chỉ có một lần bước chân vào trường tiểu học, một lần đầu tiên gặp một ai đó, một lần sau cùng chia tay ai đó… Dù là sau này có thể gặp rất nhiều lần đầu tiên nữa nhưng đã là với người khác mất rồi.

Có những thứ trên đời rất nhiều, nhưng chỉ có thể chọn một. Người ta thường chọn món ăn xong rồi lại thèm món của người bên cạnh, vì một lần chỉ nên ăn một bữa ăn. Dạ dày con người thường hẹp. Trái tim con người vốn cũng rất hẹp, chỉ có thể chứa được một người.

Hoàng tử Bé [1] chỉ có một. Trăm năm ngàn năm sẽ không bao giờ có một hoàng tử bé thứ hai. Hoa hồng của hoàng tử cũng chỉ có một. Dù trên thế gian có triệu triệu khu vườn, mỗi khu vườn có trăm ngàn đóa hồng giống hệt nhau, cuối cùng cũng chỉ có một đóa hồng cậu đã chăm sóc, đã yêu thương, đã giận hờn…

Thế gian thì vô cùng. Ước mơ thì vô tận. Hoàng tử bé đi chu du khắp các thiên hạ cuối cùng vẫn đau đáu nhớ về cái hành tinh bé nhỏ của mình.

Số một cũng có nghĩa là nhất. Có cái nhất vì có nhiều. Có cái nhất vì không thể đồng đều. Mặc dù không phải lúc nào cũng dễ quyết định cái nào là nhất. Có những cái nhất chỉ có trong một khoảnh khắc, bước sang khoảnh khắc khác đã phải nhường ngôi. Vị trí cao nhất thường là vị trí bấp bênh nhất.

Bạn yêu thương điều gì nhất trong đời?

Cái làm cho tôi tò mò nhất từ bé đến giờ là lý thuyết về lỗ đen vũ trụ. Cái gì phía sau đó? Không ai biết. Đã rơi vào đó, không thứ gì, kể cả ánh sáng, có thể thoát ra.

Giả sử, chỉ là giả sử thôi, có ai đó đoan chắc với bạn, rơi vào lỗ đen vũ trụ bạn sẽ không chết mà trở nên hạnh phúc nhất đời, cảm thấy được những niềm vui trên đời này không có, sống được một cuộc sống khác mà mỗi khoảnh khắc cũng đáng giá cả một cuộc đời. Chỉ có điều là vĩnh viễn không thể quay lại được. Bạn có bước vào đó không?

99,99% sẽ trả lời là không. Tôi cũng vậy, tôi trả lời không. Mặc dù cuộc sống bây giờ chỉ tạm bình thường.

Giả sử ngược lại, bạn rơi vào đó người bạn yêu thương nhất sẽ được hưởng cuộc sống thần tiên ấy, niềm hạnh phúc bất tận ấy, bạn có bước vào không?

Tôi gật đầu. Nhưng rồi tôi phải suy nghĩ xem chọn ai để làm người được hưởng hạnh phúc ấy.

Thật khó. Hóa ra bạn không thể mang cả cuộc sống mà trao hết cho một người.

Số một là duy nhất, là độc đoán, là bướng bỉnh, là cố chấp.

Mọi thứ bắt đầu ở nó. Nhưng không thể mãi là nó.

Có khi phải là nó. Có khi tự hỏi vì sao phải là nó.

Cuộc đời chứa đầy những số một.

Trăm ngàn triệu triệu số một chỉ tạo nên có một cuộc đời…… 

BCT ( sưu tầm )

Ngun: Legio Mariae – Đạo Binh Đức Mẹ

Cherry Blossom 2017 - 1 sm -

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Chân – Thiện – Nhẫn là cội nguồn của những điều tốt đẹp

Chân – Thiện – Nhẫn
là cội nguồn của những điều tốt đẹp

Tại sao Phật lại nói: ‘Điều ý nghĩa nhất của sinh mệnh con người chính là quay trở về’

Sống trong cuộc đời, ai ai cũng phải tranh đấu ngược xuôi để có tiền, quyền, danh lợi… Nhưng đến khi hai mắt khép lại, bao nhiêu phấn đấu cả cuộc đời cũng chìm vào hư ảo. Của cải ấy, ‘khi sinh không đem đến, khi tử không mang theo’. Vậy thì điều gì mới là ý nghĩa nhất với sinh mệnh đời người?

Câu chuyện sau đây sẽ là câu trả lời cho điều đó.

Năm 1921, Lewis Lawes trở thành giám đốc nhà tù nổi tiếng khủng khiếp ở Mỹ. Catherine, vợ của Lawes là một phụ nữ đặc biệt. Lúc Lawes tiếp quản nhà tù, Catherine vẫn còn khá trẻ dù họ đã có ba đứa con. Khi đó tình trạng trại giam khá hỗn loạn và nguy hiểm, ai cũng khuyên can, song họ không ngăn được bà thường xuyên đến đó.

Dường như bà không thấy có bất kì sự nguy hiểm nào khi đối diện với các tù nhân, mặc dù nhà tù nơi chồng bà cai quản nối tiếng về những tù nhân bất trị, đã phạm những tội ác đáng sợ.

Các tù nhân thường thấy bà đến, gương mặt bình thản, thân thiện, bà đẹp và dịu dàng, mỗi căn phòng nơi giam giữ các phạm nhân bà đều ân cần dừng lại, hỏi thăm, chia sẻ với họ đôi câu chuyện.

Một hôm, nhà tù tổ chức giải đấu bóng rổ, bà đưa 3 con nhỏ của mình đến xem, bà còn không ngần ngại ngồi xem trận đấu chung với các tù nhân. ‘Vợ chồng tôi đều rất quan tâm đến họ. Và tôi tin họ cũng sẽ quan tâm đến chúng tôi. Tôi không thấy có điều gì cần đáng lo cả.’ – Bà nói khi ai đó lo ngại cho bà.

Trong số tù nhân có một người mù, từng bị kết tội giết người, Catherine đã đích thân đến thăm anh ta. Bà cầm tay người tù hỏi:
– Anh có được học chữ dành cho người mù không?
– Người mù đọc chữ là sao, tôi không hiểu? – Anh ta trả lời.

Vậy là bà bắt đầu dạy anh ta chữ nổi. Nhiều năm sau, anh vẫn thường khóc mỗi khi nhắc đến bà.

Một người tù khác bị câm điếc, Anh không thể giao tiếp với mọi người. Thế là bà lặn lội đi học ngôn ngữ cử chỉ để về dạy cho anh. Trong gần 20 năm, bà thường xuyên lui tới nhà tù để giúp đỡ các tù nhân.

Nhưng không may, một ngày khi đang trên đường bà bị tai nạn giao thông và qua đời. Lawes phải lo đám tang cho vợ nên vắng mặt và một người khác đã tạm thời quản lý nhà tù thay ông.

Ngay lập tức, đã có chuyện không ổn xảy ra. Một đám đông tù nhân đã tập trung ở cổng lớn vào buổi sáng hôm mai táng Catherine, nhất định không chịu giải tán, trong đó có cả những tù nhân hung dữ với tội ác tày trời. Nhiều người trong số họ đã rơi nước mắt.

Hiểu được tình cảm họ dành cho Catherine, người quản trại tạm thời nói:
– Được rồi, các anh có thể đi tiễn Catherine, nhưng nhớ quay về trại trước khi trời tối.

Sau đó, ông ra lệnh mở cổng chính để tất cả tù nhân đến nhà Lawes nhìn mặt Catherine lần cuối. Không có bất kỳ giám thị nào đi theo họ cả. Dòng người xếp hàng ngay ngắn, đi bộ suốt gần một dặm đến nhà Lawes. Đêm ấy, họ trở về đông đủ, không thiếu một ai.

Mạnh Tử đã từng nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện”.

sept-5-2013-9

Mạnh Tử – Một học trò xuất sắc của Khổng Tử có câu: Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Nghĩa là bản tính nguyên sơ của mỗi người trong chúng ta đều là lương thiện. Thế nên chúng ta thường thấy mỗi đứa trẻ khi mới sinh ra đều đẹp tựa thiên thần.

Nhưng rồi trong dòng xoáy cuộc đời, trải qua bao năm tháng biến động, tranh đấu, bon chen, nhiều người trong họ có thể đã biến đổi thành tàn ác, xấu xa. Người đời cũng không ai muốn tôn trọng hay yêu mến họ nữa.

Vậy tại sao Catherine có thể đối xử với họ như thế? Tại sao bà không thấy sợ, khinh bỉ hay căm ghét những người đã phạm phải lầm lỗi đáng sợ hoặc đáng khinh.

Chẳng phải trong lòng bà không hề nghĩ chi đến những tội ác họ đã từng phạm phải, chẳng phải bà chỉ nhìn thấy ở họ một sinh mệnh vốn dĩ là lương thiện và bà tin rằng cái cội rễ ấy vẫn ở sâu thẳm trong tâm hồn họ và không bao giờ mất hẳn.

Chẳng phải bà hiểu rằng, không ai hoàn mỹ, ai cũng có thể mắc sai lầm. Có thể lớn, có thể nhỏ. Nhưng nếu chỉ nhìn vào sai lầm hay cái xấu của người khác thì trong tâm trí ta cũng chỉ tràn ngập bóng tối của những thứ xấu mà thôi. Và điều đó cũng không thể khiến họ tốt hơn hay khác đi.

Điều quan trọng hơn cả sự trả giá, là sự biết nhìn lại, nhận ra và ‘phản bổn quy chân’, quay trở về với bản tính thuần thiện trong trẻo mà mỗi chúng ta đều đã từng có và có thể đã đánh mất trong những năm tháng đầy biến động của cuộc đời.

Nhà tù có thể giam giữ thân thể, nhưng bao dung và từ bi mới cứu chuộc được tâm hồn. Mới có thể thực sự đưa con người từ địa ngục trở về và thấu hiểu đến tận cùng giá trị của tình yêu thương, sự chân thành, tấm lòng lương thiện.

Những điều trao đi, chính là những gì sẽ nhận lại

Những người tù ấy, vào buổi sáng trên con đường đến tiễn đưa Catherine, trong tâm hồn họ chẳng phải sẽ tràn ngập ánh sáng chiếu rọi từ thiên đường, nơi tình yêu, sự chân thành, nhân hậu mà bà đã dành cho họ. Và chẳng phải cái mầm thiện lành bà đã gieo vào tâm hồn họ trong những năm tháng bà còn sống, bằng những ân cần, trìu mến và bao dung ấy đã nảy nở và đơm hoa trong tâm hồn những con người tội lỗi.

Và ngay khi chẳng có quản ngục nào đi theo, chẳng có song sắt nào giam giữ thì chính sức mạnh vô hình ấy đã khiến họ không bao giờ làm điều xấu, đã không có tù nhân nào bỏ chạy. Bởi vì họ sẽ sống xứng đáng với sự từ bi, cao thượng mà bà dành cho họ.

Phật gia cho rằng: ‘Điều ý nghĩa nhất của sinh mệnh đời người chính là quay trở về, trở về với bản tính thuần chân nguyên sơ trong mỗi người.‘ Và rằng, Chân – Thiện – Nhẫn là cội nguồn của những điều tốt đẹp..

Nhẫn mới có thể tha thứ, bao dung với lỗi lầm của người khác, có Thiện mới có thể đem điều tốt lành trao cho người khác, có Chân mới có thể làm mọi việc từ đáy lòng mà không giả tạo.

Hãy giữ gìn và vun xới hạt mầm tốt đẹp đó trong lòng mỗi con người, bởi vì không phải chính trị, tiền bạc, dầu mỏ, kim cương mà chính cội nguồn sâu thẳm tạo nên sinh mệnh và vũ trụ ấy mới có thể cứu rỗi thế giới này.

Lam Thư

Nguồn: thời báo Đại Kỷ Nguyên

Cúc Thạch thảo 2013

Posted in Uncategorized | Leave a comment